Vốn đầu tư phát triển: quy mô tăng hiệu quả thấp

(TCT online) - Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, với tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP 9 tháng đầu năm đạt 34,0%, quy mô vốn đầu tư trong nền kinh tế tuy không cao như thời kỳ 2001-2010 (đạt trên 39%), nhưng vẫn thuộc loại cao so với cùng kỳ mấy năm nay. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm cho tốc độ tăng GDP đạt khá cao.
 
 
Xét về nguồn vốn, vốn đầu tư thuộc nguồn khu vực nhà nước tăng thấp nhất trong 3 nguồn và tỷ trọng trong tổng số đạt 33,6%, thấp hơn tỷ trọng tương ứng của các thời kỳ trước đây (bình quân thời kỳ 1996-2000 là 54,3%, thời kỳ 2001-2005 là 38,7%, thời kỳ 2006-2010 là 38,7%, thời kỳ 2011-2015 là 39,1%, 2016 là 37,6%, 2017 là 35,7%). Vốn đầu tư của khu vực này bao gồm nguồn vốn từ NSNN, nguồn vốn vay, nguồn vốn của các DNNN và nguồn vốn khác. Trong đó, nguồn vốn NSNN tính theo giá thực tế tăng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong 3 nguồn (51%). Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước có tốc độ tăng cao nhất, tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 42,5%, lớn nhất so với cùng kỳ trong nhiều năm qua và lớn nhất trong 3 nguồn. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện 9 tháng ước đạt 13,25 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Vốn FDI tính bằng VND đạt 299,6 nghìn tỷ đồng và chiếm 23,9% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. 
 
Mặc dù quy mô vốn đầu tư phát triển đã và đang được cải thiện song hệ số ICOR củaViệt Nam vẫn còn cao, tức là hiệu quả đầu tư còn thấp. Cụ thể, để GDP tăng 1 đồng cần phải đầu tư trên 6 đồng vốn. Đáng chú ý, hiệu quả đầu tư từ 2006 đến nay thấp hơn thời kỳ 2001-2005 và thấp hơn nhiều nước (chỉ có hệ số ICOR khoảng trên dưới 3,5 lần- tức là để GDP tăng 1 đồng, những nước này chỉ cần đầu tư ,5 đồng vốn). Nhìn tổng quát hơn về mô hình và chất lượng tăng trưởng, thì tăng trưởng GDP của Việt Nam chủ yếu vẫn dựa vào yếu tố vốn.
 
Phân tích hiệu quả đầu tư theo từng loại hình kinh tế thì thấy, ICOR của kinh tế nhà nước rất cao: theo tính toán sơ bộ, hệ số này năm 2011 là 9,48, năm 2012 là 8,46, năm 2013 là 10,5, năm 2014 là 12,75, năm 2015 là 9,66, năm 2016 là 10,26, năm 2017 là 12,62, dự báo năm 2018 là 12,48. Như vậy ICOR của loại hình kinh tế nhà nước cao nhất và cao hơn ICOR chung, đồng nghĩa hiệu quả đầu tư thấp nhất là do loại hình này phải đầu tư vào những lĩnh vực, vùng miền không nhằm thu lợi nhuận. Ngoài ra, hiệu quả đầu tư thấp do thời gian thi công kéo dài, tỷ lệ lãng phí, thất thoát lớn, hoặc bị đầu tư phân tán, dàn trải.
 
Loại hình kinh tế ngoài nhà nước có hệ số ICOR thấp hơn hệ số của loại hình kinh tế nhà nước - tức có hiệu quả đầu tư cao hơn. Hệ số ICOR của loại hình kinh tế ngoài nhà nước qua các năm như sau: năm 2011 là 4,05, năm 2012 là 5,15, năm 2013 là 6,53, năm 2014 là 5,63, năm 2015 là 5,44, năm 2016 là 6,48, năm 2017 là 6,27. Năm 2018, với dự báo ICOR là 5,65- thấp hơn năm trước và cao hơn hệ số chung. 
 
Riêng với loại hình kinh tế có vốn ĐTNN ICOR có xu hướng giảm xuống từ 2011 đến nay: năm 2011 là 7,36, năm 2012 là 6,77, năm 2013 là 6,15, năm 2014 là 6,15, năm 2015 là 5,13, n ăm 2016 là 5,78, năm 2017 là 4,47. Năm 2018 với dự báo hệ số ICOR là 4,33. Mặc dù ICOR của khu vực này có xu hướng giảm, tức là hiệu quả đầu tư tăng lên, song vẫn thuộc loại cao so với nhiều nước.
Đào Ngọc Lâm 

Tin mới

Các tin khác