Nhiều triển vọng cho ngành bao bì trong thời kỳ bình thường mới

(TCT online) - Đó là nhận định chung được Công ty CP báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) đưa ra trong báo cáo công bố “Bảng xếp hạng top 10 Công ty Bao bì uy tín năm 2020” ngày 29/9.

Theo đánh giá của Vietnam Report, mặc dù tiềm năng tăng trưởng của ngành bao bì Việt Nam đang rộng mở, song cũng nhiều thách thức. Chỉ tính riêng trong 2 năm là 2018 và 2019, đầu tư FDI vào ngành bao bì giấy Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng và đang chiếm hơn 50% sản lượng giấy các loại của Việt Nam. Điều này tạo sức ép lớn cho các DN Việt, khi đa phần đều có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, mẫu mã chủng loại sản phẩm còn đơn điệu, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. 
Không những vậy, đại dịch Covid-19 cũng tác động hỗn hợp, cả tích cực lẫn tiêu cực đến các DN bao bì với sự thay đổi hành vi người tiêu dùng. Nếu như các ngành hàng tiêu dùng, dược phẩm và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thương mại điện tử tăng trưởng mạnh mẽ, dẫn đến phân khúc bao bì đóng gói dược phẩm, thực phẩm đóng gói, dán nhãn chất khử trùng và bao bì xà phòng, chất tẩy rửa và nước rửa tay hiện có nhu cầu cao, thì nhu cầu về bao bì cho các sản phẩm sang trọng và công nghiệp lại có xu hướng giảm.
Dẫu vậy, theo Vietnam Report, triển vọng phát triển của ngành bao bì khá sáng, bởi bên cạnh lợi thế mà hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) mang lại, thì những năm gần đây sự thay đổi lớn trong tâm lý người tiêu dùng ủng hộ các giải pháp đóng gói thân thiện với môi trường cũng đem lại nhiều triển vọng cho các DN Việt. Theo khảo sát của Vietnam Report, đa phần người tiêu dung ủng hộ việc hạn chế sử dụng sản phẩm bao bì tái sử dụng và sẵn sàng trả tiền nhiều hơn với các sản phẩm được đóng gói đẹp mắt, hợp vệ sinh. Còn theo báo cáo của Smithers Pira (cơ quan toàn cầu về chuỗi cung ứng ngành bao bì, giấy và in) ngành bao bì mềm sẽ tăng trưởng 3,3% mỗi năm để đạt 269 tỷ USD vào năm 2024. Sự tăng trưởng này chủ yếu do tiến bộ công nghệ làm cho lĩnh vực bao bì mềm phù hợp với nhiều sản phẩm tiêu dùng hơn trước đây và đáp ứng yêu cầu đa dạng của khách hàng (do bao bì mềm có nhiều ưu điểm hơn so với bao bì cứng nhờ các yếu tố: thuận tiện hơn để mở, dễ dàng hơn để lưu trữ, thời gian sử dụng kéo dài, vận chuyển tốt hơn, phù hợp hơn cho ngành thương mại điện tử...). 
Cạnh đó, bao bì mềm cũng được đánh giá phát triển mạnh hơn nhờ sự tiến bộ nguyên vật liệu. Trong nhiều năm, hầu hết các vật liệu mềm dùng cho đóng gói là polyvinyl clorua, có hại cho môi trường, nay hầu hết các bao bì mềm đều sử dụng vật liệu làm bằng polyethylene (PE), polyethylene terephthalate (PET) hoặc polypropylene (PP), có độ bền cao khi sử dụng và an toàn với thực phẩm, không gây nhiễm độc và nhiễm khuẩn cho thực phẩm.
Trong dài hạn, vật liệu đóng gói thân thiện với môi trường và bền vững sẽ tiếp tục được phổ biến, khi ô nhiễm nhựa và biến đổi khí hậu đang định hình lại luật đóng gói đến năm 2025 ở tất cả các khu vực trên thế giới. Trong 7 chương trình tổng thể mà EU đang sử dụng để hướng dẫn các khuôn khổ pháp lý dựa trên khí hậu, tập trung vào các lệnh cấm nhựa, sử dụng tối thiểu thuế và các ưu đãi tài chính như một đòn bẩy để khuyến khích các sản phẩm bao bì sử dụng bền vững. Theo đó, các thiết kế bao bì, lựa chọn vật liệu và cơ sở hạ tầng quản lý chất thải đang điều chỉnh cho phù hợp với khuôn khổ lập pháp mới nổi này. 
Theo định hướng đến năm 2021, Việt Nam sẽ không sử dụng nhựa dùng một lần tại các cửa hàng, chợ, siêu thị và đến năm 2025 cả nước sẽ không sử dụng đồ nhựa một lần. Xu hướng sử dụng bao bì thân thiện với môi trường thách thức đối với ngành bao bì nhựa Việt Nam bởi trong cơ cấu xuất khẩu của ngành, các sản phẩm bao bì truyền thống không thân thiện với môi trường chiếm tỉ trọng tương đối lớn. Điều này buộc các công ty sản xuất và kinh doanh bao bì phải thay đổi, cần tìm nguồn nguyên liệu an toàn, công nghệ sản xuất mới để giảm bớt tiêu hao nhiên liệu và không gây hại với môi trường. Thực tế, nhiều thương hiệu đang chuyển đổi sang bao bì bền vững làm từ vật liệu phân hủy sinh học như giấy hoặc cây gai dầu, một số khác đang tập trung vào việc giảm số lượng bao bì mà mỗi sản phẩm có, giúp giảm trọng lượng và chi phí vận chuyển của sản phẩm, đồng thời gửi thông điệp tích cực đến người tiêu dùng.  
Tuy nhiên, để giúp ngành bao bì có bước phát triển nhanh và mạnh trong thời kỳ bình thường mới, các DN phải xây dựng cho được một chiến lược phục hồi bao gồm kết hợp khả năng phục hồi tài chính, kế hoạch hoạt động để khởi động lại hoạt động tại các nhà máy sản xuất có thể đã tạm thời đóng cửa; đồng thời đánh giá tiềm năng nhu cầu thị trường trong tương lai và các động thái chiến lược tập trung vào khách hàng, tìm hiểu tác động của Covid-19 đến sự lựa chọn bao bì của người tiêu dùng..., để giúp DN vượt qua khủng hoảng, định vị thương hiệu trên thị trường. Các công ty cũng cần thích ứng để đối phó với đại dịch toàn cầu và trong đó có sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng. Điều này buộc các công ty bao bì phải tìm kiếm các phương án dự phòng và hiểu rõ hơn về chuỗi cung ứng và các lỗ hổng của chúng, tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro về tài chính và đa dạng nhà cung cấp nguyên vật liệu theo xu hướng “Trung Quốc +1”. 
Để làm được điều này, DN kiến nghị 4 giải pháp trọng tâm cần sự hỗ trợ của Chính phủ trong thời gian tới. 
Một là, khuyến khích hoạt động đầu tư để thu hút vốn, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Theo đánh giá của nhiều DN thì các ưu đãi nêu trên chưa rõ ràng, thiếu cơ chế hỗ trợ vốn phù hợp đã hạn chế khả năng chuyển đổi công nghệ, tiếp cận các công nghệ hiện đại của các doanh nghiệp ngành bao bì ảnh hưởng chung đến quá trình phát triển ngành công nghiệp phụ trợ và sự cạnh tranh của ngành bao bì Việt Nam. 
Hai là, bổ sung các chính sách phát triển riêng cho ngành bao bì, giải quyết vấn đề thiếu hụt nguyên liệu, phát triển công nghệ phụ trợ. Bởi theo đánh giá, hiện hầu hết nguyên liệu và phụ gia dùng trong sản xuất các sản phẩm nhựa ở Việt Nam đều phải nhập khẩu (chiếm từ 80-85%/năm với các sản phẩm nhập khẩu chính là PE, PP và PVC), nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 15-20%/năm. Không những thế, hầu hết các DN bao bì Việt còn hạn chế về trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất so với các DN FDI, chỉ có một vài DN nội địa lớn mới có đủ sức cạnh tranh. Việc đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị đối với ngành bao bì hiện nay vẫn đang là một trở ngại lớn, hầu hết các thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất của ngành đều phải nhập khẩu. Do đó, nếu ngành cơ khí của Việt Nam có thể phát huy tốt vai trò hỗ trợ thì ngành bao bì sẽ có khả năng tiếp cận được với công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, qua đó tăng hiệu quả hoạt động và doanh thu của ngành. 
Ba là, tăng cường hỗ trợ thông qua các gói hỗ trợ tín dụng, ưu đãi đầu tư và ưu đãi thuế. Mặc dù các DN bao bì giấy bị ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19, nhưng chính sách hỗ trợ cũng chưa được nêu rõ so với các ngành như dệt may, da giày hay dịch vụ khách sạn… Vì thế, cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể đối với ngành bao bì như các ngành công nghiệp khác trong miễn, giảm và nộp chậm, hoàn thuế giá trị gia tăng. Hỗ trợ vốn vay ưu đãi, hạ lãi suất và giãn trả nợ ngân hàng cho DN ngành bao bì nhằm hỗ trợ trực tiếp vào việc mua nguyên liệu đầu vào.
Bốn là, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, như tạo điều kiện thuận lợi trong cấp phép nhập khẩu, có các chính sách giúp giảm thủ tục nhập khẩu, thời gian thông quan nhanh góp phần giảm chi phí, giải quyết hàng tồn lưu tại cảng và doanh nghiệp sớm có nguyên liệu sản xuất.
Đức Phương

Gửi bình luận


Mã bảo mật