Theo chân Bác, Kiểm toán nội bộ Vietcombank nguyện viết tiếp bài ca kết đoàn!

(TCT online) - Những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được bồi đắp qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã tạo nên cốt cách con người Việt Nam và trở thành một trong những cơ sở quan trọng nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. 
 
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Bầu ơi, thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
 
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc ta cũng như các tinh hoa tư tưởng đoàn kết của nhân loại tiến bộ, Người còn nâng tư tưởng về đại đoàn kết lên thành chân lý, chính sách và chiến lược đầy sáng tạo. Những thành tựu vĩ đại mà cách mạng và nhân dân Việt Nam đạt được suốt 90 năm qua kể từ khi có Đảng, đặc biệt là qua hơn 30 năm đổi mới chính là minh chứng hùng hồn và sống động nhất. 
 
Từ xa xưa, truyền thống đại đoàn kết đã là nguồn gốc làm nên sức mạnh của cộng đồng người Việt. Truyền thống ấy càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết mỗi khi đất nước bị hoạ xâm lăng. Việt Nam là một đất nước nhỏ bé nhưng luôn phải đương đầu với chủ trương “chia để trị” của các thế lực xâm lược hùng mạnh. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: “Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói đã bị chia năm sẻ bảy. Lợi dụng một cách xảo trá sự chia cắt ấy, người ta hy vọng phá vỡ tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong lòng người An Nam và tạo ra những mối xung khắc giữa anh em ruột thịt với nhau”. Lịch sử đã chỉ ra rằng, mỗi khi dân tộc bị chia rẽ, bè phái thì đất nước rơi vào tình trạng suy yếu và bị thôn tính. Thực tế ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta” sáng tác trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng: “Kể gần sáu trăm năm giời/ Ta không đoàn kết bị người tính thôn”. Từ đó, Người kêu gọi: “Hỡi ai con cháu Rồng Tiên/Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau” (1). Các nghiên cứu sau này phát hiện, cụm từ “đoàn kết” được nhắc tới hơn hai ngàn lần, cụm từ “đại đoàn kết” cũng được nhắc tới hơn tám mươi lần trong toàn bộ di cảo của Người. Điều đó nói lên sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với vấn đề đoàn kết, đồng thời thể hiện rõ tầm chiến lược trong tư tưởng về đại đoàn kết của Người.
 
Cán bộ, Đảng viên Vietcombank luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, phát huy phẩm chất đạo đức cán bộ, văn hóa doanh nghiệp, xây dựng tập thể vững mạnh, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao 
 
Về nội dung, tư tưởng "đoàn kết, đại đoàn kết" của Hồ Chí Minh bao gồm hai tư tưởng lớn là đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Trong buổi nói chuyện tại Lớp nghiên cứu chính trị khoá II, trường Đại học nhân dân Việt Nam, ngày 8-12-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Trong tác phẩm "Kính cáo đồng bào" viết ngày 6-6-1941, khi đất nước chìm đắm trong đêm trường nô lệ, Người cảnh tỉnh: "Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng". 
 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công phải có lực lượng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới. Cũng theo Người, muốn có lực lượng, phải thực hành đoàn kết, vì “đoàn kết là lực lượng”. Bởi vậy trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa sống còn, quyết định thành bại của cách mạng. Người chỉ rõ, đoàn kết trong đảng, đoàn kết dân tộc kết hợp chặt chẽ với đoàn kết quốc tế tạo ra sức mạnh vượt trội dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
 
Người phân tích, đại đoàn kết phải mang tính định hướng và có Đảng lãnh đạo. Trong khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản chính là linh hồn, là lực lượng lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải tiêu biểu cho khối đoàn kết, trong nội bộ Đảng, từ trên xuống dưới phải luôn giữ gìn và phát huy tư tưởng đó. Có như vậy, Đảng mới xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và cả dân tộc. Trong bản "Di chúc" viết ngày 10-5-1969, Người căn dặn: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình". Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu rõ: Đảng Cộng sản có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải tập hợp, đoàn kết và phải chỉ ra những hình thức, phương pháp tổ chức thích hợp nhất để có thể phát huy tốt nhất sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc. Tại bài viết Đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 33 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1963), Bác viết “Mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng”.
 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là một chính sách lớn đối với toàn dân tộc. Tư tưởng của Người luôn có sự kết hợp hài hòa, quyện chặt và nhất quán giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp, gắn lý tưởng độc lập, tự do và phương châm dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết, tất cả do con người, vì con người. Đây cũng chính là mẫu số chung, là điểm tập hợp đại đoàn kết toàn dân tộc thành một khối thống nhất. Lời dặn dò của Người luôn nhắc nhở chúng ta về cách thức và mục tiêu sau cùng của chính sách đại đoàn kết: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”; “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” (2). 
 
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết không phải là tập hợp quần chúng một cách tùy ý, mà ngược lại, đây phải là một khối đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ. Khối đại đoàn kết rộng rãi thể hiện ở việc tập hợp mọi tầng lớp xã hội, mọi ngành, giới, lứa tuổi, tôn giáo, dân tộc, cá nhân... trong một tổ chức thống nhất. Khối đại đoàn kết chặt chẽ, bền vững và lâu dài thông qua việc liên tục củng cố, tăng cường nền tảng là khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức. Người nhắn nhủ: “Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các  tầng lớp nhân dân…,  phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…, phải đoàn kết các dân tộc anh em cùng nhau xây dựng Tổ quốc...” (3). Trước hết, đó là đoàn kết giữa Chính phủ và nhân dân, đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân với nhau. Rộng hơn nữa, đó là đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, đoàn kết chặt chẽ lực lượng trong nước với ngoài nước... Đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi không những là yêu cầu tất yếu của cách mạng Việt Nam mà còn là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, một tầm nhìn về tương lai của dân tộc. Ngay từ năm 1946, trong thư gửi đồng bào Nam Bộ, Người nhắn nhủ: "Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ như thế mới thành đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang" (4). Trong lời phát biểu khi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3/3/1951, Người đã nêu 8 chữ: “Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” là mục đích của Đảng và Đảng thực hiện “đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc”, “đoàn kết để xây dựng nước nhà”.
 
Hạt nhân cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh chính là nguyên tắc tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân. Đây cũng chính là sự kế thừa và nâng cao giá trị truyền thống từ bao đời nay của cha ông ta từ thuở ban đầu dựng nước và giữ nước: Nước lấy dân làm gốc; chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân. Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, dân là nhân vật trung tâm, là nền tảng, là chủ thể, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của đại đoàn kết. Đúng như nhận xét đầy thấm thía của Người: “Gốc có vững cây mới bền; Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (5). Thông qua cuộc đời đấu tranh cao đẹp vì dân, vì nước của Người, nguyên tắc đó đã thẩm thấu, hoá thân vào thực tiễn cách mạng, liên kết triệu triệu con người trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội, tạo nên khối đại đoàn kết thực sự vững chắc.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải có tinh thần đoàn kết có chiều sâu và mang tính bản chất, "không phải đoàn kết ngoài miệng, mà đoàn kết bằng việc làm, đoàn kết bằng tinh thần, đoàn kết thực sự" (6). Người luôn chú trọng tinh thần “cầu đồng tôn dị” (7), lấy cái chung, đề cao cái chung để hạn chế cái riêng, cái khác biệt. Trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Hà Tây ngày 10-2-1967, Người căn dặn "từ tỉnh đến huyện, đến xã phải đoàn kết, đoàn kết thực sự. Đoàn kết thực sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí ". Mặt khác, Người lưu ý “đoàn kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân” (8). Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ sự chân thành, vì mục tiêu cuối cùng là đoàn kết, nhất trí trên cơ sở niềm tin vào cái chân, thiện, mỹ ở con người: “Mỗi con người đều có thiện và ác trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt của con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân ta, phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời” (9). Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thổi tính nhân văn, nhân bản sâu sắc vào nguyên tắc đoàn kết - đấu tranh - đoàn kết để tư tưởng của Người có sức lan tỏa và cảm hóa mãnh liệt trong cuộc sống đời thường.
 
Cán bộ Đảng viên Vietcombank luôn phát huy tinh thần đoàn kết, xây dựng tập thể vững mạnh
 
Trong bài nói tại Đại hội liên hoan phụ nữ "Năm tốt" ngày 30-4-1964, khi giải thích khái niệm "gia đình", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến đoàn kết theo một cách tiếp cận rất khác: “Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp trong một cái nhà, cái sân... Theo nghĩa mới thì gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn. Thí dụ những người cùng lao động trong nhà máy, trong một cơ quan, trong một hợp tác xã... đều phải đoàn kết thương yêu nhau như anh em trong một gia đình”. Vâng theo lời dậy của Người, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), mái nhà của hơn 18.000 cán bộ nhân viên chung một mục tiêu, một ý chí phấn đấu đã ghi dấu mốc lịch sử hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành với các giai đoạn phát triển ấn tượng và đầy bản lĩnh, khẳng định vững chắc vị trí dẫn đầu với quy mô lợi nhuận lớn nhất hệ thống. Không dừng lại ở dó, Vietcombank tiếp tục những bước phát triển ngoạn mục vươn ra châu lục và thế giới, góp phần thực hiện mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi cách mạng tháng Tám thành công “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không” (10). Những thành quả mà Vietcombank đã đạt được chính là kết tinh giá trị của truyền thống qua hơn nửa thế kỷ dựng xây, của văn hóa, thương hiệu Vietcombank, thấm đẫm công sức, chất chứa khát vọng, niềm tin và tình yêu của các thế hệ thành viên gia đình Vietcombank. 
 
Trong buổi nói chuyện tại Lớp chỉnh huấn trung cao của Bộ Quốc phòng tháng 5 năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: "Bây giờ còn một điểm rất quan trọng cũng là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì con cháu đẻ ra đều tốt: Đó là đoàn kết" (11). Truyền thống, thương hiệu, văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao chính là những nhân tố đã được phát huy trên nền tảng đoàn kết chung tạo nên sức mạnh, giúp Vietcombank liên tục chinh phục những đỉnh cao mới. Tinh thần đại đoàn kết Vietcombank luôn được phát huy ở từng phòng ban, từng đơn vị, từng chi nhánh, từng công ty con, giữa các phòng ban, đơn vị, giữa TSC với các chi nhánh, giữa ngân hàng mẹ với các công ty con để lan toả mạnh mẽ trong toàn hệ thống. Tinh thần đoàn kết liên tục được củng cố trong từng tuyến bảo vệ: thứ nhất, thứ hai, thứ ba và giữa các tuyến bảo vệ với nhau nhằm giữ vững chất lượng tốt nhất về quản lý rủi ro và áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất theo Basel II. Tinh thần đoàn kết còn được Vietcombank thể hiện trong mối liên hệ với các ngân hàng, tổ chức tín dụng, định chế tài chính trong nước và quốc tế, vì sự phát triển chung, sự kết nối ngày càng chặt chẽ của ngành tài chính – ngân hàng Việt Nam và thế giới. Tinh thần ấy cũng được Vietcombank đẩy mạnh phát huy trong mối quan hệ với khách hàng của mình, các cá nhân và doanh nghiệp trong mọi hoạt động nghiệp vụ, nhất là các doanh nghiệp chủ chốt của khối doanh nghiệp TW. Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới còn gặp nhiều khó khăn, có dấu hiệu suy thoái do sự bùng phát của dịch Covid-19, tình đoàn kết giữa Vietcombank và các doanh nghiệp, cùng nhau chia sẻ khó khăn, củng cố nội lực vượt qua trở ngại, đưa kinh tế Việt Nam phục hồi vững chắc và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. 
 
Trên hết, tinh thần đoàn kết giữa Đảng bộ Vietcombank với các Đảng bộ khác trong Đảng ủy Khối doanh nghiệp TW giúp việc quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết và Chỉ thị của Đảng một cách thống nhất, như Nghị quyết số 23-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy  mạnh công nghiệp hóa, hiện đai hóa đất nước;  Nghị quyết  số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức; Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng đội ngũ doanh nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết  số 25-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa… Cùng với các Đảng bộ trong Đảng ủy Khối doanh nghiệp TW, Đảng bộ Vietcombank tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII và chuyên đề năm 2020 về “Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; xây dựng các tổ chức đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, qua đó củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
 
Đoàn kết và nêu cao phẩm chất đạo đức cán bộ trong hoạt động kiểm toán nội bộ của Vietcombank
 
Chi bộ 30 (phòng Kiểm toán nội bộ) trực thuộc Đảng bộ Trụ sở chính Vietcombank luôn phát huy cao độ tinh thần đoàn kết trong toàn chi bộ cũng như với các chi bộ khác để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trị của mình. Với vai trò của tuyến bảo vệ thứ ba, phòng Kiểm toán nội bộ thể hiện tình đoàn kết trong từng nhóm nghiệp vụ, từng đoàn kiểm toán cũng như phối hợp chặt chẽ với các tuyến bảo vệ khác nhằm tối ưu hóa hiệu quả của mô hình ba tuyến bảo vệ trong mọi hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng. Đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng cũng phải có quần chúng giúp mới được” (12). Sự gắn kết bền vững trên tinh thần đại đoàn kết Vietcombank chính là nền tảng để chi bộ 30, phòng Kiểm toán nội bộ thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình.
 
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiểm soát là yếu tố cơ bản để người lãnh đạo bám sát thực tiễn hoạt động, kết quả kiểm soát giúp cho người lãnh đạo có thông tin thực tiễn, từ đó ban hành, điều chỉnh các quyết định một cách hợp lý, phù hợp với yêu cầu định hướng quản lý, lãnh đạo. Chính vì thế, kiểm soát là một yếu tố không thể thiếu hỗ trợ cho công tác lãnh đạo chung của ngân hàng. Người thẳng thắn phê phán: “… hiện nay còn có một số cấp ủy đảng coi nhẹ và không chú ý lãnh đạo công tác kiểm soát. Thậm chí có ủy viên tỉnh và huyện cho công tác kiểm soát là “vạch lá tìm sâu”, làm giảm thành tích của địa phương mình, v.v. Đó là thành kiến sai lầm, cần phải sửa chữa” (13). Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người chỉ rõ: "Muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi" (14). 
 
Để làm tốt công tác kiểm soát, Người luôn chú trọng tới tới phẩm chất đạo đức và năng lực, trình độ của người cán bộ kiểm soát, phương pháp trong công tác kiểm soát. Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người nêu rõ: "Muốn kiểm soát có kết quả tốt phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là người rất có uy tín" (15). Uy tín ở đây thể hiện đầy đủ ở 4 đức tính cần có như Người đã đúc kết trong bài viết “Thế nào là Cần”, ký bút danh Lê Quyết Thắng, đăng trên báo Cứu quốc, số 1255, ra ngày 30/5/1949:
 
“Trời có 4 mùa Xuân hạ thu đông
Đất có 4 phương Đông Tây Nam Bắc
Người có 4 đức Cần Kiệm Liêm Chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
Thiếu một đức thì không thành người”.
 
Người cách mạng phải cần kiệm liêm chính. Người kiểm soát hơn ai hết lại càng phải cần kiệm liêm chính. Bởi đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác kiểm soát. Nội dung này đã được quy định cụ thể trong Thông tư 44 trước đây và Thông tư 13 hiện nay của NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Các Đảng viên chi bộ 30 luôn sát sao đôn đốc nhắc nhở từng cán bộ phải thực hiện đúng Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và Quy chế Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Ngoại thương đã ban hành. Mỗi cán bộ kiểm toán nội bộ phải nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc: Chính trực, khách quan, bảo mật, trách nhiệm, thận trọng và năng lực chuyên môn. Chữ Liêm mà Người nói ngày ấy giờ đây đã trở thành chuẩn mực chính trực, khách quan độc lập mà hàng ngày, hàng giờ, từng cán bộ kiểm toán nội bộ luôn có ý thức tuyệt đối tuân thủ. Để thực hiện chữ Liêm, cán bộ kiểm toán không được phép nhận bất cứ lợi ích nào, mà phải thực hiện công việc được giao một cách thẳng thắn, trung thực; không cố ý làm trái quy định; không làm mất uy tín của kiểm toán nội bộ và Ngân hàng. Bên cạnh đó, cán bộ kiểm toán được yêu cầu phải bảo mật thông tin, không được sử dụng các thông tin có được cho mục đích vì lợi ích cá nhân hay gây thiệt hại cho ngân hàng. Trong công việc, cán bộ kiểm toán luôn duy trì tính độc lập, khách quan, đánh giá công bằng vì lợi ích của ngân hàng, không vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của bên thứ ba, tránh mọi tình huống có thể gây ra xung đột lợi ích. Đây cũng là cách mà các cán bộ kiểm toán nội bộ áp dụng và thực hành chữ Chính trong công việc. 
 
Học tập tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi Đảng viên của Chi bộ 30 – phòng Kiểm toán nội bộ Vietcombank luôn trung thực, công tâm, khách quan, thể hiện năng lực, trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn nỗ lực hết sức trong công tác kiểm toán nói riêng cũng như công tác kiểm soát nói chung của toàn ngân hàng, đề xuất những kiến nghị mang lại giá trị gia tăng cho các hoạt động nghiệp vụ. Các thế hệ Đảng viên Chi bộ 30 – phòng Kiểm toán nội bộ nguyện viết tiếp bài ca kết đoàn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt nhịp năm nào để cùng chung sức xây dựng một Vietcombank không ngừng phát triển lớn mạnh, giữ vững vị thế ngân hàng số một Việt Nam, vươn ra tầm châu lục và thế giới với khí thế hào hùng, tinh thần sẵn sàng đổi mới và sáng tạo, một Vietcombank chung niềm tin ở Đảng, ở Bác, vững tương lai cùng dân tộc và Tổ quốc./.
 
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên của Người!
Hồ Chí Minh – đức sáng ngời!
Tấm gương của Bác, đời đời khắc ghi.
Năm mươi bẩy năm, chúng con đi
Sẵn sàng đổi mới, kiên trì đậm sâu.
Tin cậy, chuẩn mực dài lâu
Nhân văn, bền vững, dẫn đầu chẳng sai.
Luôn đoàn kết – vai sát vai
Phát huy nội lực, tiến dài bước xa.
Đại thắng ắt sẽ về ta
Mỗi năm tin mới nở hoa đón mừng.
Kìa, cá chép đã hoá rồng
Vietcombank đã sẵn lòng bay cao!
Châu Á đang vẫy tay chào
Vươn ra biển lớn, ngôi sao sáng ngời!
Mục tiêu đâu có xa xôi
Top 100 mạnh, sánh đôi Nhật Hàn!
Viết nên trang sử vẻ vang
Vietcombank mãi huy hoàng từ đây!
Nhớ tư tưởng Bác hôm nay
Soi đường, chỉ lối mai này chúng con!
Chung niềm tin, mãi vẹn tròn
Vững tương lai, mãi cháu con của Người!
Lê Phương Giang 
Chi bộ 30 (Phòng Kiểm toán Nội bộ) – Đảng bộ Trụ sở chính VCB)
 
Tài liệu tham khảo và trích dẫn
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.266.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, t.7, tr.438.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.10, tr.605-606.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.246-247.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.41.
(6), (7), (8) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.1, tr.362.
(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.558.
(10) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.35.
(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.19-20.
(12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.1, tr.989-990.
(13) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.14, tr. 326.
(14) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 327.
(15) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 287.
 
 

Gửi bình luận


Mã bảo mật