Cải cách chính sách thuế thúc đẩy phát triển xanh kinh nghiệm từ quốc tế

(TCT online) - Nếu chỉ tìm cách tăng trưởng kinh tế mà không gắn với bảo vệ môi trường thì sẽ làm xói mòn tự nhiên, biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Vì vậy, các nước đã xem cải cách chính sách thuế như một biện pháp quan trọng trong bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển xanh.
 
 
Chính sách thuế nhằm thúc đẩy phát triển xanh ở các quốc gia thường áp dụng đối với các đối tượng gây tác động xấu đến môi trường, thông qua việc đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và “người sử dụng phải trả tiền”. Theo đó, các loại thuế thường được áp dụng bao gồm:
 
Thuế tài nguyên
 
Thuế tài nguyên là một trong những công cụ quan trọng để quản lý khai thác và hướng tới sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Đối tượng chịu thuế bao gồm các loại khoáng sản, quặng, kim loại và phi kim loại, dầu mỏ, than... Theo đó, có nước áp dụng thuế suất tương đối (tỷ lệ %), trong khi có quốc gia lại áp dụng mức thuế suất tuyệt đối cho một số đối tượng nhất định, hoặc thu thuế dựa trên doanh thu, giá trị tài nguyên khai thác, giá mua/bán, hoặc dựa vào quy mô khai thác.
 
Đơn cử tại Trung Quốc, Luật Thuế tài nguyên mới (có hiệu lực từ 1/9/2020) đã tiêu chuẩn hóa các đối tượng chịu thuế và mức thuế theo tỷ lệ 1%-20% đối với một số loại khoáng sản (1-2% áp dụng cho khí than, 1-4% áp dụng cho uranium, mức 6% áp dụng cho dầu thô, khí tự nhiên, mức 2-6% áp dụng cho vàng, bạc…), đồng thời quy định mức thuế suất tuyệt đối áp dụng cho một số đối tượng nhất định (như với địa nhiệt thì mức thuế từ 1-30 NDT/m3). Luật cũng cho phép chính quyền địa phương thực hiện miễn, hoặc giảm thuế tài nguyên trong một số trường hợp do tai nạn, hoặc thiên tai trong quá trình khai thác, sản xuất.
 
Còn tại Philippines, hoạt động khai thác tài nguyên chịu thuế TTĐB tính trên giá trị tài nguyên khai thác (giá thị trường). Trước năm 2018, mức thuế đối với khoáng sản phi kim loại và tài nguyên mỏ là 2%; khoáng sản kim loại (đồng, vàng và crom) là 2%; dầu mỏ là 3%; riêng than đá chịu mức thu tuyệt đối là 10 Peso/tấn; than (gồm than nội địa và than nhập khẩu) tăng từ 50Peso/tấn lên 150 Peso/tấn từ 1/1/2020.
 
Thuế xe
 
Phần lớn các quốc gia hiện nay đều áp dụng thuế xe cộ, phí đăng ký xe, thuế lưu thông xe…Trong đó, thuế xe cộ đánh vào quyền sở hữu và thu theo định kỳ hàng năm (giống thuế tài sản). Cơ sở đánh thuế phổ biến nhất là dựa trên công suất động cơ, hoặc dung tích xi lanh, hay mức khí thải CO2. Chẳng hạn, Nhật Bản áp dụng thuế xe cộ, trong đó phân chia nhiều loại thuế như thuế trọng lượng xe cơ giới; thuế ôtô, thuế xe nhẹ… Thuế trọng lượng xe cơ giới áp dụng đối với xe ôtô (ngoại trừ xe chở khách) và mức thuế là 4.100 Yên/năm đối với xe gia đình, 2.600 Yên/năm đối với xe mục đích kinh doanh. Thuế ôtô đánh vào loại có dung tích 1.500 – 2.000 cc với mức 39.500 Yên/năm. Thuế xe nhẹ (light vehicle tax) đánh vào xe hạng nhẹ hoặc xe máy (ngoại trừ xe hạng nhẹ sử dụng mục đích gia đình) với mức thuế là 10.800 Yên/năm từ 2015 (trước đó áp mức thuế là 7.200 yên/năm).
 
Thuế đăng ký xe được coi là một loại thuế TTĐB, mà người nộp thuế phải trả cho lần đầu tiên đăng ký, hoặc bán xe mới (hoặc xe đã qua sử dụng được nhập khẩu, sản xuất trong nước).  Còn thuế lưu thông là loại thuế đăng ký xe trả hàng năm cho tất cả các loại xe. Cả 2 loại thuế này đều dựa vào việc tiêu thụ nhiên liệu động cơ (LGe/100 km) hoặc khí thải CO2 của phương tiện (g/km).
 
Thuế đăng ký xe và thuế lưu thông xe được áp dụng ở hầu hết các quốc gia bao gồm ở châu Âu và châu Á. Tại Anh, đối với các loại xe ôtô đăng ký từ ngày 1/4/2017 sẽ trả thuế xe cộ (vehicle tax) dựa vào lượng khí thải CO2 cho lần đầu tiên đăng ký. Mức thuế suất áp dụng cao hơn cho những loại xe ôtô sử dụng diesel không đáp ứng tiêu chuẩn về phát thải khí nitơ oxit dao động từ 0 Bảng đến 2.175 Bảng đối với xe diesel đáp ứng tiêu chuẩn khí thải và các loại xe diesel khác; từ 0 Bảng đến 2.165 Bảng đối với xe sử dụng nhiên liệu thay thế. 
 
Thuế năng lượng
 
 Thuế năng lượng thu đối với các sản phẩm khi sử dụng tạo ra khí carbon như xăng, dầu, than đá, khí tự nhiên… Năm 2019 ước tính có 43 quốc gia OECD và G20 áp dụng. Thuế năng lượng có tác động đến 6 nhóm ngành chính là giao thông đường bộ, giao thông đường hàng không, đường thủy, đường sắt, ngành công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thương mại và dân cư, ngành điện. Thuế năng lượng cũng được chia nhỏ thành một số loại như thuế carbon, thuế nhiên liệu và thuế điện.
Đối với thuế carbon, cơ sở của việc áp thuế là đưa chi phí bổ sung cho mỗi tấn CO2 phát thải vào khí quyển, qua đó góp phần giảm phát thải khí nhà kính tại nơi diễn ra phát thải (theo đúng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền). Hiện nay có khoảng 40 quốc gia áp dụng thuế carbon.
 
Cụ thể, Pháp áp dụng thuế carbon vào năm 2013 với mức ban đầu là 7 euro/tấn CO2 (khoảng 8 USD/tấn CO2), sau đó tăng lên 30,5 euro/tấn CO2 (32,15 USD/tấn CO2). Thuế carbon được áp dụng một phần để giảm gánh nặng từ các loại thuế khác như thuế TNDN, TNCN, đồng thời một phần nguồn thu dùng để hỗ trợ các cá nhân có thu nhập thấp trong việc sử dụng năng lượng.
 
Thuế nhiên liệu còn gọi là thuế xăng dầu, thuế khí ga… là một loại thuế TTĐB áp dụng cho việc bán nhiên liệu. Hầu hết các quốc gia áp thuế đối với nhiên liệu dùng cho vận chuyển. Thuế xăng dầu và thuế dầu diesel được áp dụng ở khoảng 41 quốc gia và mức thuế suất dao động từ khoảng 0,11 USD/gallon (Indonesia) đến 3,49 USD/gallon (Anh). Mức thuế suất thuế dầu diesel dao động từ khoảng 0,1 USD/gallon (Indonesia) đến 3,39 USD/gallon (Anh). Một nghịch lý cho thấy, dầu diesel bị đánh thuế mức thấp hơn xăng ở phần lớn các nước, mặc dù có hàm lượng năng lượng carbon cao hơn đáng kể. 
 
Thuế điện không trực tiếp khuyến khích các nhà sản xuất điện chuyển sang sử dụng nguồn năng lượng sạch hơn, mà có tác động gián tiếp giúp giảm phát thải khí nhà kính do tiết kiệm năng lượng hóa thạch được sử dụng để tạo ra điện. Đơn cử, tại Thụy Điển, việc sử dụng điện bị đánh thuế trên mỗi kWh, bất kể nguồn năng lượng chính được sử dụng để tạo ra điện. Qua đó, làm cho tất cả các nguồn năng lượng đắt hơn tương ứng với thiệt hại về môi trường khi sử dụng. Điện sử dụng trong quá trình sản xuất công nghiệp, các trung tâm công nghệ và trong nông nghiệp bị đánh thuế ở mức thấp hơn so với điện được sử dụng cho dân cư và các ngành thương mại. Mức thuế suất thuế điện là 29 Euro/kWh. Các nhà sản xuất điện không phải trả thuế carbon. Tại Singapore, mức thuế đối với điện là 23,02 cents/kWh (đã bao gồm chi phí nhiên liệu và phi nhiên liệu). 
 
Phần lớn các quốc gia đều áp dụng ưu đãi thuế để khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng thay thế. Đơn cử, Malaysia thực hiện giảm trừ thuế đầu tư cho các dự án công nghệ xanh, theo đó giảm trừ 100% của chi phí vốn phát sinh cho một dự án công nghệ xanh từ năm đánh giá 2013 đến 2020 và giảm trừ 100% của chi phí vốn phát sinh cho tài sản công nghệ xanh từ năm 2013 đến 2020 (mức hỗ trợ có thể được bù trừ vào 70% thu nhập theo luật định trong năm đánh giá); miễn 100% thuế thu nhập cho các dịch vụ công nghệ xanh từ năm đánh giá 2013 đến 2020. Hay như tại Lào, các hoạt động thúc đẩy sử dụng hiệu quả tài nguyên và năng lượng được hưởng một số ưu đãi như: miễn thuế lợi nhuận DN trong thời gian tối đa 10 năm, miễn thuế GTGT, miễn tiền thuê và nhượng quyền sử dụng đất của nhà nước trong thời gian tối đa 10 năm tùy thuộc vào vị trí của dự án.
 
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
 
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế hướng tới phát triển xanh, có thể rút ra một số bài học như sau:
 
Thứ nhất, chính sách thuế là một trong những công cụ hiệu quả được các quốc gia áp dụng, nhằm hướng tới bảo vệ môi trường. Các sắc thuế khá đa dạng về tên gọi cũng như tính chất, bao gồm thuế tài nguyên, thuế TTĐB, thuế năng lượng, thuế xe cộ, thuế carbon, thuế nhiên liệu... Trong đó, mỗi loại thuế đánh vào các đối tượng gây ô nhiễm môi trường khác nhau.
 
Thứ hai, công cụ kinh tế như thuế môi trường đặt ra “giá” cho ô nhiễm, nên các hoạt động gây hại cho môi trường sẽ phải trả chi phí đắt đỏ hơn. Điều này có thể giúp phủ xanh chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu, thông qua đổi mới trong hoạt động kinh doanh và các công nghệ xanh được sử dụng nhiều hơn. 
 
Thứ ba, thuế carbon là một trong những loại thuế được nhiều quốc gia lựa chọn áp dụng do góp phần sử dụng hiệu quả nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng năng lượng có thể chưa thực sự đầy đủ, nếu chỉ khai thác thông qua giá carbon. Do đó, các quy định thuế khác liên quan đến chất lượng không khí môi trường xung quanh, vấn đề chất thải, tiêu chuẩn khí thải xe cộ, thậm chí là cấm hoàn toàn các loại hàng hóa, thiết bị có chứa chất gây hại cho môi trường là rất cần thiết để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo vệ sức khỏe con người.
 
Thứ tư, việc thúc đẩy đầu tư, sản xuất, sử dụng năng lượng tái tạo là rất quan trọng, nhằm mục tiêu hạn chế sự phụ thuộc quá lớn vào nhiên liệu hóa thạch. Các ưu đãi thuế thường được áp dụng ở các quốc gia bao gồm ưu đãi về thuế TNDN, thuế GTGT, thuế nhập khẩu... và các công cụ chính sách được thiết kế cẩn thận, đa dạng để thực hiện các mục tiêu chính về môi trường.
 
Thứ năm, việc áp dụng chính sách thuế hướng tới phát triển xanh có thể giúp tạo nguồn thu cho NSNN để thực hiện các mục tiêu về môi trường. Bên cạnh đó, việc cải cách theo hướng tăng cường các loại thuế liên quan đến môi trường cũng sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng thuế đối với thu nhập, từ đó giúp thúc đẩy việc làm và khuyến khích tăng trưởng xanh.
Phạm Thị Thu Hồng

Tin mới

Các tin khác