Sửa đổi, bổ sung một số quy định về hoàn thuế

(TCT online) - Hoàn thuế luôn là thủ tục được người nộp thuế, DN quan tâm. Tại Luật Quản lý thuế năm 2019, các quy định về hoàn thuế đã được sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp hơn với thực tiễn quản lý và giúp người nộp thuế dễ theo dõi, thực hiện. 
 
 
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật thuế, bà Nguyễn Hồng Hạnh, Phòng nghiệp vụ kế toán thuế, Công ty tư vấn kế toán Cường Minh cho biết, những quy định về thủ tục hoàn thuế tại Luật Quản lý thuế sửa đổi đã bao quát và đầy đủ hơn so với trước đây. Đơn cử như quy định về các trường hợp hoàn thuế đã được tổng hợp, khái quát thành 2 nhóm, giúp người nộp thuế dễ hiểu và áp dụng. Thứ nhất là nhóm được hoàn thuế theo quy định chung như hoàn thuế GTGT, TTĐB trong trường hợp người nộp thuế có số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra phát sinh trong kỳ. Nhóm thứ hai được hoàn thuế trong trường hợp số tiền mà người nộp thuế đã nộp vào NSNN (theo chứng từ nộp tiền) lớn hơn nghĩa vụ phát sinh phải nộp (theo tờ khai, quyết định, thông báo thuế). Việc chia nhóm các trường hợp được hoàn thuế sẽ giúp trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết hoàn thuế theo từng nhóm khoa học hơn, từ đó người nộp thuế dễ theo dõi, thực hiện.
Luật Quản lý thuế năm 2019 bổ sung quy định về thẩm quyền quyết định hoàn thuế (Điều 76), tương ứng với từng trường hợp hoàn thuế, bảo đảm minh bạch về thẩm quyền và tăng tính trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan thuế các cấp trong công tác giải quyết hồ sơ hoàn thuế. Các cấp có thẩm quyền quyết định hoàn thuế gồm Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh, TP trực thuộc trung ương; thủ trưởng cơ quan thuế nơi tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế nộp thừa; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan.
Luật cũng bổ sung quy định mới về thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế theo phương thức quản lý rủi ro (Điều 77). Cụ thể, cơ quan quản lý thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước theo nguyên tắc rủi ro trong quản lý thuế và trong thời hạn 5 năm kể từ ngày ban hành quyết định hoàn thuế. Thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế đối với hồ sơ hoàn thuế được thực hiện theo quy định của luật này và Luật Thanh tra.
 

Một thực tiễn áp dụng khác đã được quy định cụ thể trong luật mới nhằm tránh những vướng mắc phát sinh như quy định tại luật hiện hành. Cụ thể, theo Điều 59 Luật Quản lý thuế năm 2006, cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, theo ông Phạm Văn Trung, Trưởng Phòng Nghiệp vụ dự toán pháp chế, Cục Thuế Hải Phòng, trên thực tế, nhiều trường hợp cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế không phải là cơ quan quản lý khoản nộp thừa. Điều này làm phát sinh tăng các thủ tục trung gian xác nhận số nộp thừa giữa hai cơ quan thuế, chưa kể cũng làm tăng thủ tục hành chính khi kho bạc nhà nước làm thủ tục chi hộ, kéo dài thời gian nhận lại khoản nộp thừa. Từ thực tiễn này, Luật Quản lý thuế năm 2019 đã bổ sung quy định về cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế. Theo đó, cơ quan thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế đối với các trường hợp được hoàn thuế theo quy định của pháp luật. Cơ quan thuế quản lý khoản thu (nộp thừa) tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế để loại bỏ bớt các khâu trung gian, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế sớm nhận được tiền hoàn thuế. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện phân loại hồ sơ và thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế, hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ. 
 
Ngoài ra, Luật Quản lý thuế sửa đổi cũng quy định rõ hơn việc phân loại hồ sơ hoàn thuế, gồm kiểm tra trước, hoàn thuế sau và hoàn thuế trước, kiểm tra sau. Theo ông Phạm Văn Trung, luật đã quy định cụ thể 7 trường hợp thuộc diện kiểm tra trước gồm: hoàn thuế lần đầu; hoàn trong 2 năm, kể từ khi bị xử lý trốn thuế; DN bị giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động; hồ sơ thuộc loại rủi ro cao; hồ sơ hết thời hạn không giải trình, bổ sung, hoặc giải trình, bổ sung không đạt yêu cầu; hồ sơ hoàn thuế hàng hóa xuất nhập khẩu không thanh toán qua ngân hàng; hồ sơ thuộc diện phải kiểm tra trước theo quy định của Chính phủ. Những hồ sơ không thuộc 7 trường hợp trên, thì thực hiện theo quy trình hoàn thuế trước, kiểm tra sau. So với Luật Quản lý thuế năm 2006, thì Luật Quản lý thuế năm 2019 đã bỏ quy định “hồ sơ hoàn thuế theo quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên thuộc diện hồ sơ kiểm trước”, bởi trên thực tế, các hồ sơ hoàn thuế này được người nộp thuế tuân thủ tốt, ít xảy ra rủi ro. Do đó, cơ quan thuế không cần tập trung nguồn lực để kiểm tra trước mọi hồ sơ. 
 
Cùng với quy định phân nhóm hồ sơ hoàn thuế, Luật Quản lý thuế năm 2019 đã bổ sung quy định mới về địa điểm kiểm tra hồ sơ hoàn thuế nhằm xác định cách thức xử lý hồ sơ tương ứng với việc phân loại. Theo đó, hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước được kiểm tra tại trụ sở của cơ quan quản lý thuế; hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước sẽ thực hiện kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế, hoặc trụ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đặc biệt, ngoài số tiền thuế phải hoàn trả, luật bổ sung mức tiền lãi cụ thể mà cơ quan thuế phải trả cho người nộp thuế nếu chậm ban hành quyết định hoàn thuế là 0,03%/ngày tính trên số tiền phải hoàn trả và số ngày chậm hoàn trả. Quy định này nhằm tăng cường trách nhiệm giải quyết hồ sơ hoàn thuế của cơ quan thuế, đồng thời đảm bảo công bằng trong cả hai trường hợp, người nộp thuế nộp chậm và cơ quan thuế hoàn chậm.          
Nhóm PV

Gửi bình luận


Mã bảo mật