Xử lý tiền thuế nợ không có nghĩa là xóa nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp thuế

(TCT online) - Đó là quan điểm của Luật sư Hà Huy Phong, Giám đốc Công ty Luật TNHH Inteco (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) khi trao đổi về dự thảo nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN (dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi).
 
 
Thưa ông, dự thảo nghị quyết  xử lý tiền thuế nợ không còn khả năng thu hồi sẽ được trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới đây. Ông có thể phân tích cụ thể về những căn cứ pháp lý xung quanh đề xuất này?
 
Dự thảo nghị quyết có mấy vấn đề cần quan tâm. Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý tiền thuế nợ đã đảm bảo đúng yêu cầu, mục tiêu đặt ra. Thứ hai, về đối tượng, dự thảo nghị quyết đưa ra 7 trường hợp dự kiến được đề xuất xử lý tiền thuế nợ. Nói một cách khái quát, thì nhóm các đối tượng này đều có thể coi là không còn tồn tại, hoặc không còn khả năng đóng thuế trên thực tế. Do đó, việc giữ lại chỉ là con số trên sổ sách gây hiện tượng ảo, không phản ánh chính xác thực trạng và môi trường chung của nền kinh tế. Việc xử lý tiền nợ thuế, trong đó xóa tiền phạt chậm nộp và tiền chậm nộp không còn khả năng thu hồi (nợ ảo), giúp cho số nợ không tiếp tục gia tăng ảo, cơ quan thuế, hải quan giảm chi phí quản lý, có điều kiện tập trung nguồn lực và việc quản lý thu tốt hơn, tăng cường chống thất thu cho ngân sách, đồng thời cũng phán ánh đúng thực chất, tình trạng nợ thuế của nền kinh tế, minh bạch việc xây dựng các kế hoạch thu chi NSNN, đảm bảo tính thực tế và khả thi cao. Chính vì vậy, mới cần đến một nghị quyết của Quốc hội, là cơ quan lập pháp cao nhất. Mặc dù, Luật Quản lý thuế 38/2019/QH14 đã có quy định về vấn đề này, nhưng phải đến đến 1/7/2020 mới có hiệu lực thi hành, nên việc ban hành một nghị quyết riêng của Quốc hội là cần thiết, tạo cơ sở pháp lý và hành lang cho việc xử lý xóa nợ thuế.
 
Thứ ba, về thẩm quyền xoá nợ thuế, dự thảo đã nêu rõ là, áp dụng theo quy định tại Điều 84 và Điều 87 của Luật Quản lý thuế 38/2019/QH14. Theo đó, thẩm quyền khoanh nợ được giao cho thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý trực tiếp người nộp thuế quyết định việc khoanh nợ. Còn việc xoá nợ đối với DN và tổ chức, Thủ tướng quyết định xóa nợ đối với nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp từ 15 tỷ đồng trở lên; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định xoá nợ từ 10-15 tỷ đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định xoá nợ từ 5-10 tỷ đồng; chủ tịch UBND tỉnh quyết định xóa dưới 5 tỷ đồng. Riêng xóa nợ đối với cá nhân, cá nhân kinh doanh, hộ gia đình, hộ kinh doanh, thì dự thảo đề xuất chủ tịch UBND tỉnh quyết định xóa nợ trên cơ sở hồ sơ đề nghị của cơ quan quản lý thuế. Sự phân cấp như vậy đã cụ thể hóa nguyên tắc về mặt thẩm quyền và trình tự xử lý để đảm bảo tính minh bạch và chống tiêu cực trong việc xử lý nợ thuế.
Biện pháp xử lý tiền thuế nợ
(Trích Dự thảo nghị quyết xử lý tiền thuế nợ đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp NSNN)
 
Đối với khoanh nợ:
Dự thảo nghị quyết đề xuất khoanh nợ đối với các đối tượng quy định tại Điểm a, b, c, d, đ Mục 4 (đã chết, bị tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích hoặc mất năng lực hành vi dân sự; có quyết định giải thể gửi cơ quan quản lý thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh để làm thủ tục hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh đã thông báo người nộp thuế đang làm thủ tục giải thể trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký kinh doanh, nhưng người nộp thuế chưa hoàn thành thủ tục giải thể; đã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; không còn hoạt động kinh doanh tại địa chỉ đã đăng ký...) kể từ ngày 1/1/2020. Đối với các khoản nợ phát sinh từ ngày 1/1/2020 đến trước ngày Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực, việc khoanh nợ thực hiện kể từ ngày phát sinh và đảm bảo điều kiện khoanh nợ.
 
Đối với xóa nợ:
 
Xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp còn nợ đến trước ngày 1/1/2020 đối với các đối tượng quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4 và Khoản 5 Điều 4 Nghị quyết, đảm bảo người nộp thuế quy định tại Khoản 1 Điều 4 có giấy chứng tử hoặc giấy báo tử hoặc quyết định của tòa án tuyên bố đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc các giấy tờ thay cho giấy báo tử. Đối với người nộp thuế quy định tại Khoản 2 Điều 4 có quyết định giải thể hoặc thông báo của cơ quan đăng ký kinh doanh về việc đang làm thủ tục giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN. Đối với người nộp thuế quy định tại khoản 3 Điều 4, có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hoặc tòa án có thông báo thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Đối với người nộp thuế quy định tại Khoản 4 và Khoản 5 Điều 4 không còn hoạt động sản xuất kinh doanh và có biên bản bản xác nhận giữa cơ quan quản lý thuế với UBND xã, phường, thị trấn (nơi người nộp thuế có trụ sở hoặc địa chỉ liên lạc) về việc người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Việc xóa tiền thuế nợ chậm nộp, tiền phạt chậm nộp không trái với pháp luật và quy định của Hiến pháp. Do đó, việc Quốc hội ban hành một nghị quyết như vậy không tạo ra bất kỳ mâu thuẫn hoặc trái với quy định hiện hành nào trong hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, việc ban hành nghị quyết được căn cứ vào thực tiễn hoạt động quản lý và phản ảnh sự tồn tại khách quan của xã hội và nền kinh tế. Nếu chúng ta cứ cố níu giữ những con số ảo sẽ gây hiểu nhầm về khả năng thu ngân sách, về bức tranh tài chính của nền kinh tế cũng như làm lệch lạc các kế hoạch thu chi NSNN.
 
Có ý kiến cho rằng, người nộp thuế đã bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền, hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…về cơ bản là những trường hợp vi phạm pháp luật, không xuất phát từ nguyên nhân khách quan, do đó, việc đề xuất xử lý nợ với đối tượng này là không đúng với quy định pháp luật. Quan điểm của ông ra sao?
 
 Ở đây chúng ta tôn trọng yếu tố thực tế. Tức là cho dù có cố gắng đến mấy, nhưng vì đối tượng nộp thuế không còn tồn tại, khả năng trả tiền thuế không còn, thì để treo con số trên sổ sách cũng không thể làm NSNN tăng lên. Dự thảo của Chính phủ đề xuất khoanh nợ và xóa tiền phạt, tiền chậm nộp, người nộp thuế có tiền thành lập DN mới thì phải nộp vào ngân sách khoản nợ này, do đó tôi phải nhấn mạnh rằng, việc xử lý nợ thuế không phải là biện pháp miễn trừ trách nhiệm của những người có trách nhiệm liên quan đến việc nợ thuế. Nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, thì vẫn phải xử lý theo đúng quy định. Việc xử lý nợ thuế này phù hợp với thực tiễn, chứ không xóa đi nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp thuế.
 
Theo dự thảo, trường hợp đã được xoá nợ, nếu phát hiện việc xoá nợ không đúng quy định, hoặc người nộp thuế quay trở lại sản xuất kinh doanh, thì phải nộp vào ngân sách khoản đã được xoá. Ông có cho rằng quy định này là cần thiết để đảm bảo tính tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, tránh thất thoát, cũng như là nguyên tắc để ràng buộc trách nhiệm của người nộp thuế?
 
Tôi cho rằng đây là quy định có tính phòng ngừa gian lận và tiêu cực, cũng như dự liệu một thực tế có khả năng xảy ra. Nói cách khác, là một biện pháp phòng ngừa lách luật để trốn thuế. Một DN rơi vào hoàn cảnh khó khăn, hoàn toàn có thể tạm dừng hoạt động, nộp hồ sơ xin giải thể, thậm chí bị ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đăng ký DN, nhưng sau đó, vẫn có khả năng quay lại hoạt động bình thường. Nếu quay lại hoạt động, thì tư cách người nộp thuế vẫn còn tồn tại và sẽ không thuộc trường hợp được xóa nợ thuế. Quy định này là cần thiết và trong văn bản luật phải có những quy định mang tính dự liệu và phòng ngừa như vậy.
 
Bên cạnh đó, tôi cho rằng, các nội dung dự thảo của nghị quyết về cơ bản là phù hợp với tình hình hoạt động của các DN, đáp ứng đòi hỏi công tác quản lý thuế hiện nay. Tuy nhiên, cần có thêm các quy định về cơ chế giám sát tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có liên quan trong quá trình thực hiện để tránh gian lận, tiêu cực. Đơn cử như hàng quý, hàng năm cơ quan có thẩm quyền phải công bố danh sách đối tượng nộp thuế được hưởng xóa nợ thuế và công bố công khai trên các phương tiện đại chúng để nhân dân biết và giám sát. Bất kỳ khiếu nại hoặc tố cáo nào liên quan phải được xử lý và trả lời công luận một cách kịp thời, công khai. Ngoài ra, hiện tại mới chỉ có dự thảo nghị quyết của Quốc hội, nên sau này khi chính thức được Quốc hội thông qua và có hiệu lực, thì cũng cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành thì mới đảm bảo tính đầy đủ, chi tiết về mặt thủ tục. 
 
Xin cảm ơn ông!    
Thuý Nga (thực hiện).